“Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến”.
Bài đọc 1 : Cv 2,42-47
Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
42 Thời bấy giờ, các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.
43 Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.
44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu.
46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 117,2-4.13-15.22-24 (Đ. c.1)
Đ. Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Hoặc :
Đ. Ha-lê-lui-a.
2 Ít-ra-en hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
3 Nhà A-ha-ron hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
4 Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Đ.
13 Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã,
nhưng Chúa đã phù trợ thân này.
14 Chúa là sức mạnh tôi,
là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi.
15 Kìa nghe tiếng reo mừng chiến thắng
trong doanh trại chính nhân : Đ.
22 Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
lại trở nên đá tảng góc tường.
23 Đó chính là công trình của Chúa,
công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.
24 Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. Đ.
Bài đọc 2 : 1 Pr 1,3-9
Thiên Chúa cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.
3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta ! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại, 4 để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em, 5 là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết.
6 Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. 7 Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. 8 Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, 9 bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : x. Ga 20,29
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Này anh Tô-ma, vì đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.” Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Ga 20,19-31
Tám ngày sau, Đức Giê-su đến.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”
30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người.
Đó là lời Chúa.
BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA - CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH NĂM A, CHÚA NHẬT LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
Đây là những bài giảng của Đức Thánh Cha trong Chúa Nhật 2 năm A, Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xó
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 2 Phục sinh năm A (16/4/2023) - Ở lại cộng đoàn để gặp Chúa
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 2 Phục sinh năm A (19/4/2020) - Chúa chờ đợi Tôma
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 2 Phục sinh năm A (23/4/2017) - Chiếc áo trắng
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 2 Phục sinh năm A (30/3/2008) - Nguồn hy vọng cho nhân loại
Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Cv 2,42-47
1. Thánh Lu-ca vừa phác hoạ một hình ảnh tuyệt đẹp về cộng đoàn Ki-tô hữu đầu tiên : chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng, mọi người đều kính sợ Chúa, hợp nhất với nhau, bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Tuy nhiên thánh Lu-ca cũng đưa ra một số khó khăn cụ thể trong chính các cộng đoàn này, chẳng hạn các ông Kha-na-ni-a và Xa-phi-ra gian lận trong việc bán đất, nên bị Chúa phạt chết. Một sự việc khác còn trầm trọng hơn khi những người Ki-tô hữu gốc Do-thái và Ki-tô hữu gốc dân ngoại không thể sống chung vui vẻ với nhau.
Ta có thể tự hỏi thánh Lu-ca muốn gửi đến chúng ta sứ điệp nào khi kể lại cho chúng ta những hình ảnh quá đẹp, gần như phi thực tế này ? Chắc chắn thánh Lu-ca cho ta biết là thời đại Mê-si-a đã đến. Các Tông Đồ có thể sống chung với nhau như anh em một nhà, nhờ ơn Chúa Thánh Thần ; dấu ấn của Thánh Thần lan toả trên khắp thế giới nhờ Đấng Mê-si-a, thể hiện qua tình huynh đệ, bình an, công bằng, tiêu diệt sự dữ là những giá trị của Nước Thiên Chúa mà Đấng Mê-si-a thiết lập, mà các Ki-tô hữu đầu tiên nhiều lần làm gương mẫu cho chúng ta về điều đó !
Vì vậy đó là bằng chứng Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a được trông đợi, bằng chứng cho thấy chính Người đã tuôn đổ Thánh Thần xuống khắp thế gian. Nhờ đó chúng ta mới hiểu được câu : Mọi người đều kính sợ Chúa, nghĩa là mọi người đều thán phục những công việc Chúa làm. Thánh Lu-ca nói với chúng ta : Anh em hãy nhìn xem, những dấu chỉ của Nước Trời đang ở đó ; chính Thánh Thần cho phép chúng ta sống hài hoà trong gia đình, trong xứ đạo, trong các cộng đoàn khi chúng ta để cho Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn chúng ta trong ánh sáng Phục Sinh. Từ cuộc phục sinh của Đức Ki-tô, nhân loại mới đã xuất hiện, nhân loại lớn lên chầm chậm chung quanh và theo hình ảnh của Con Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nói : “Anh em hãy nhìn xem, chúng ta là những kẻ phục sinh thật sự, nghĩa là chúng ta sống một đời sống mới thật sự, con người cũ đã chết rồi.”
2. Thánh Lu-ca, một người ngoại giáo trở lại đạo, rất ngạc nhiên vì sự lan toả không thể ngăn chặn của Tin Mừng : Hằng ngày Chúa cho gia nhập cộng đoàn những người được gọi để lãnh nhận ơn cứu độ : Chính nhờ đời sống gương mẫu của mình mà cộng đoàn làm chứng về Chúa Ki-tô Phục Sinh : một đời sống chia sẻ Lời Chúa và tham dự lễ bẻ bánh, cầu nguyện, chia sẻ của cải cho nhau, làm tất cả mọi việc đó trong vui vẻ ! Cách riêng, việc để mọi sự làm của chung, đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu, là một việc không thể thực hiện được trừ khi có Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn, Thánh Thần mà Chúa Giê-su đã ban cho các tín hữu. Chúa Giê-su đã nói : “Người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy khi anh em biết yêu thương nhau.” Chính điều đó chứng tỏ cho thế gian biết rằng Chúa Giê-su đang sống. Đời sống bác ái yêu thương giữa những người tin Chúa trong các cộng đoàn phải loại bỏ những cãi cọ, nói hành, nói xấu, bất khoan dung và những chia rẽ, sống ích kỷ, không chia sẻ với ai cả.
3. Trong bài đọc 1, thánh Lu-ca đưa ra một chương trình sống đạo dành cho người Ki-tô hữu chúng ta gồm bốn điểm : chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng.
Đối với chúng ta ngày hôm nay, tham dự lễ bẻ bánh là cử hành bí tích Thánh Thể, là tham dự thánh lễ, đặc biệt thánh lễ Chúa nhật là quan trọng nhất và hết sức cần thiết cho đời sống đức tin của tất cả chúng ta, vì khi tham dự thánh lễ, chúng ta kín múc sức mạnh từ bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể để sống đức tin, để làm chứng cho Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót giữa biết bao người chưa nhận biết Chúa.
Hãy tham dự thánh lễ sốt sắng, tích cực, linh động và hiệu quả.
Đáp ca : Tv 117
Trong Mùa Phục Sinh, Phụng vụ thường mời ta nghe lại thánh vịnh 117 này, tuy những câu trích dẫn mỗi lần có khác nhau. May mắn là Chúa nhật hôm nay hai câu đầu và câu cuối của thánh vịnh hoàn toàn giống nhau : “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” Đó là toàn thể nội dung của thánh vịnh này. Đối với một người Do-thái, hai câu trên là quá đủ ! Vì nói lên kinh nghiệm của Ít-ra-en, sự khám phá họ có được, nhờ sự mặc khải của chính Thiên Chúa về mầu nhiệm của Người : một Thiên Chúa tình yêu, một Thiên Chúa trung tín. Khi suy niệm thánh vịnh hôm nay, chúng ta lại thấy câu : “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Chính Đức Giê-su đã nói câu này ít lâu trước cuộc Thương Khó của Người trong cuộc tranh luận với các thượng tế và kỳ lão, và nhân dịp này Đức Giê-su đã kể “dụ ngôn” những tá điền sát nhân. Thật ra phải gọi là ngụ ngôn, vì tất cả các chi tiết đều mang ý nghĩa riêng : gia chủ là Thiên Chúa ; vườn nho là Ít-ra-en, được Thiên Chúa chọn làm dân riêng ; Chúa đã thiết lập Giao ước Xi-nai với thể chế Mô-sê để bảo vệ và hướng dẫn dân Ít-ra-en, ví như giậu bồn đạp nho, vọng gác trong vườn ; tá điền sát nhân là những người Do-thái thất tín, nhất là những nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en đã đưa dân vào con đường bội nghĩa ; các đầy tớ của gia chủ là các vị ngôn sứ, qua các thời đã bị đối xử tàn tệ. Người con của gia chủ chính là Chúa Giê-su, bị đóng đinh trên thập giá bên ngoài Giê-ru-sa-lem. Người Do-thái tưởng giết Đức Giê-su để nắm trọn vận mệnh dân tộc. Nhưng họ sẽ bị truất quyền và bị trừng phạt. Chúa ám chỉ sự tàn phá Giê-ru-sa-lem sau này. Còn Nước Thiên Chúa sẽ được ban cho một dân khác biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Dân mới này là Hội Thánh quy tụ lại từ mọi dân thiên hạ. “Đức Giê-su hỏi họ : ‘Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?’ Họ đáp : ‘Ác giả thì ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa họ nộp hoa lợi cho ông.’ Đức Giê-su bảo họ : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?’”
Bài đọc 2 : 1 Pr 1,3-9
1. Bài đọc 2 chúng ta vừa nghe gồm ba đoạn :
1.1. Đoạn thứ nhất gồm các câu 3, 4, 5 : “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Ki-tô, Chúa chúng ta ! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.”
1.2. Đoạn thứ hai gồm các câu 6 và 7 : “Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách.”
1.3. Đoạn thứ ba gồm các câu 8 và 9 : “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin.” Chúng ta ghi nhận từ “tin” hiện diện trong cả ba đoạn ; điều đó không có gì lạ nếu chúng ta tham dự nghi thức Thánh Tẩy ; và đó cũng là niềm vui tuyệt vời. Thánh Phê-rô nói là “niềm vui khôn tả” mặc dầu đang sống giữa trăm chiều thử thách, thánh nhân muốn đề cập đến những cộng đoàn Ki-tô hữu đang sống trong một thế giới thù địch, đây là trường hợp các độc giả của thư Phê-rô.
* Chúng ta cùng lần lượt suy niệm từng đoạn một :
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.” Kiểu nói của Do-thái giáo, công thức của Ki-tô giáo ; bắt đầu bằng một lời long trọng chúc tụng Thiên Chúa, là lời cầu nguyện kiểu mẫu của Do-thái giáo ; và đây là lời cầu của một người thường hát các thánh vịnh : Nhưng nội dung là Ki-tô giáo : trong các thánh vịnh, Thiên Chúa được ca tụng như là Thiên Chúa của các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp ... Từ nay về sau Mặc Khải đã vượt qua một bước quyết định : bây giờ Thiên Chúa được biết là Cha của Đức Giê-su Ki-tô và chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà kế hoạch cứu độ nhân loại của Thiên Chúa được hoàn tất.
“Thiên Chúa đã cho chúng ta được tái sinh nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô” : như chính Đức Giê-su đã nói trong cuộc đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, thánh Phê-rô nói về phép rửa như một sự tái sinh, và sự tái sinh này bắt nguồn từ sự phục sinh của Chúa Ki-tô : hiện nay, sau hơn hai ngàn năm Ki-tô giáo, chúng ta đã rất quen với kiểu nói : “Đức Giê-su Ki-tô đã phục sinh” mà không hề có chút băn khoăn nào ; nhưng các Ki-tô hữu đầu tiên thì khác, họ sống như một cuộc cách mạng thật sự ; từ nay về sau, đối với họ, diện mạo thế giới này đã thay đổi.
Chúng ta cũng gặp lại ở đây một chủ đề rất quen thuộc của thánh Phao-lô : sự căng thẳng giữa hiện tại và tương lai : tất cả đã hoàn tất nơi Đức Ki-tô Phục Sinh, do đó ngài nói về quá khứ : “Thiên Chúa đã cho chúng ta được tái sinh” nhưng chúng ta còn phải tiến bước đến tương lai, hướng đến “ơn cứu độ” Chúa đã dành sẵn cho chúng ta, và sẽ tỏ hiện ra trong ngày sau hết như thánh Phê-rô quả quyết. Ta có thể diễn đạt từ “cứu độ” bằng một từ khác là “sự sống” hoặc “giải thoát”, giải thoát ta khỏi mọi sự huỷ diệt, ô uế và lão hoá. Ơn cứu độ, sự giải thoát đã được hoàn thành nơi Đức Giê-su Ki-tô, nhưng toàn thể nhân loại hiện nay chưa đạt được mà phải trong tương lai.
Vì ơn cứu độ đã được hoàn tất nhờ Đức Giê-su Ki-tô, do đó ngay từ bây giờ chúng ta vui mừng hân hoan như thánh Phê-rô nói : những ngày chúng ta gặp ưu phiền có thể là những ngày chúng ta không còn quan tâm đến Tin Mừng Phục Sinh trọng đại : đó là Tin Mừng yêu thương và sự sống còn mạnh hơn hận thù và cái chết. Thật ra, trong vài tình huống, niềm xác tín này có thể bị dao động và lúc đó đức tin của chúng ta bị khủng hoảng !
Đoạn thứ hai nói rõ điều đó : “Anh em còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách” như thánh Phê-rô nói. Phần tiếp theo của bức thư cho ta thoáng thấy những khó khăn mà các Ki-tô hữu gặp phải, có lẽ là sự thù nghịch mà các Ki-tô hữu trẻ gặp vì bị xem là những kẻ sống bên lề trong thế giới dân ngoại.
Đoạn thứ hai lấy lại chủ đề đức tin trong thời gian chờ đợi. Chính thánh Phê-rô được Chúa ban ơn đức tin nhờ sống kề cận lâu dài bên Người, nhưng thánh nhân ngỏ lời với các Ki-tô hữu đã không biết Chúa Giê-su và ngài kể cho họ biết mối phúc Chúa Giê-su đã hứa cho ông Tô-ma : “Phúc cho ai không thấy mà tin” và khuyến khích họ : “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang.” Thánh Phê-rô biết mình nói về vấn đề gì, bởi vì chính ông đã được đặc ân tham dự vào cuộc Hiển Dung của Chúa Giê-su, và trên gương mặt của các Ki-tô hữu, ông tìm lại được ánh sáng rực rỡ của Chúa Giê-su.
Bài Tin Mừng : Ga 20,19-31
1. “Sau cái chết của Đức Giê-su, vào chiều ngày thứ nhất trong tuần”, nghĩa là ngày Chúa nhật. Chúng ta cần nhớ rằng, khi thánh Gio-an tông đồ viết Tin Mừng thứ tư, Tin Mừng theo thánh Gio-an, thì các biến cố đã xảy ra gần năm mươi năm rồi. Năm mươi năm các Ki-tô hữu tập họp vào mỗi Chúa nhật để mừng Đức Giê-su Phục Sinh.
Đối với người Do-thái, từ nhiều thế kỷ rồi, Chúa nhật là ngày đầu tiên của tuần lễ, một ngày làm việc bình thường như các ngày khác. Chính ngày thứ bảy, ngày sa-bát mới là ngày lễ, ngày nghỉ ngơi, ngày tập họp để cầu nguyện. Vào hôm sau của ngày Sa-bát mà Đức Giê-su phục sinh, và nhiều lần sau đó, Người hiện ra với các Tông Đồ, lần nào cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, do đó đối với người Ki-tô hữu, ngày đó có một ý nghĩa đặc biệt, “ngày đầu tiên của thời đại mới” : như tuần lễ có bảy ngày của người Do-thái nhắc lại bảy ngày của công trình sáng tạo của Thiên Chúa, tuần lễ mới này được khai mạc bởi sự phục sinh của Đức Ki-tô được các Ki-tô hữu hiểu như là khởi đầu của cuộc tạo dựng mới.
2. “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái, Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông.” Thánh Gio-an nhấn mạnh đến sự trái ngược nhau : các môn đệ đóng kín cửa vì sợ người Do-thái. Ta có thể hiểu và thông cảm với các môn đệ vì nếu người Do-thái đã giết Thầy của các ông, thì họ cũng có thể giết cả các ông nữa. Điều đó càng làm rõ nét hơn sự tự do của Đức Ki-tô ! Cửa đóng kín chăng ? Không có vấn đề gì đối với Người cả.
Và lời đầu tiên Người nói với các môn đệ là “Bình an cho anh em.” Đó là một lời chào nơi cửa miệng của người Do-thái mỗi khi gặp nhau, nhưng dù vậy, ta cảm thấy lời Đức Giê-su chào các môn đệ xem ra có vẻ lạ lùng sau bao nhiêu biến cố mà các ông vừa trải qua ! Sự sợ hãi, sự lo âu trước khi Đức Giê-su bị bắt, cuộc Thương Khó thật là kinh khủng và cái chết đau đớn của Người trên thập giá, đêm thứ Năm Tuần Thánh, ngày thứ Sáu tang tóc, và sự im lặng của ngày thứ Bảy, rồi Đức Giê-su được an táng trong huyệt đá mới ... nhưng bây giờ Người đang sống và để chứng minh cho việc đó, “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn, và các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa”. Điều không thể xảy ra đã xảy ra, và ngay lúc đó, ông Gio-an kể tiếp : “Một lần nữa, Đức Giê-su nói với các môn đệ : ‘Bình an cho anh em.’”
3. “Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.’” Ta ngỡ ngàng về mối liên hệ giữa ơn Thánh Thần và sứ vụ hoà giải : Trong Kinh Thánh, Thánh Thần luôn được ban để thực hiện một sứ vụ, và không có một sứ vụ nào quan trọng hơn sứ vụ hoà giải con người với Thiên Chúa.
Đó là một lệnh truyền của Chúa Giê-su : “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Anh em hãy đi loan báo rằng tội lỗi đã được tha. Anh em hãy trở nên những sứ giả của hoà giải, phổ quát. Nếu anh em không đi thì Tin Mừng về sự hoà giải sẽ không được công bố. Chúa Cha cần anh em cho công việc đó. “Như Chúa Cha đã sai Thầy”, ở đây ta thấy Đức Giê-su tóm tắt tất cả sứ vụ của Người là nói cho mọi người biết Thiên Chúa là Tình Yêu và tha thứ, thì Người cũng sai tất cả các môn đệ đi khắp thế gian và rao giảng, công bố như vậy. Tội lỗi duy nhất, là nguồn gốc của mọi bất hạnh, là không tin vào tình yêu của Thiên Chúa. Phần anh em, Thầy sai anh em đi nói cho mọi người biết về tình yêu của Thiên Chúa.
Đôi nét về Lòng Chúa Thương Xót trong Kinh Thánh
Lòng thương xót là sự đau lòng, xót xa trước nỗi bất hạnh của người khác, thường được thể hiện bằng hành động cụ thể, như việc giúp đỡ hay an ủi.
* Trong Cựu Ước, dân Ít-ra-en cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Người luôn chung thuỷ, thương yêu, tha thứ sau mỗi lần họ phạm tội và từ bỏ Người (Is 54,8-10).
* Trong Tân Ước, Chúa Giê-su là hiện thân của Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Người giảng dạy về một Thiên Chúa là Cha yêu thương và tha thứ (x. Lc 15,11-32) ; Người đã biểu lộ lòng thương xót đối với người nghèo, người tội lỗi (x. Mc 10,47-48) và kêu gọi mọi người có lòng thương xót với nhau (x. Mt 5,7). Lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn nơi cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô để cứu độ nhân loại, làm cho con người trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa.
* Hội Thánh có nhiệm vụ tuyên xưng và giáo huấn các Ki-tô hữu về lòng thương xót của Thiên Chúa qua việc công bố Lời Chúa, qua bí tích Thánh Thể và Hoà Giải.
* Sứ mạng của người Ki-tô hữu là làm chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa qua việc :
- Cầu nguyện để ý thức rằng con người được cứu rỗi là do lòng thương xót của Thiên Chúa.
- Sẵn sàng làm mọi việc tốt cho tha nhân.
- Góp phần xây dựng một xã hội thấm đẫm tình bác ái yêu thương.
Một thoáng về phong trào “Lòng Chúa Thương Xót”
Đức Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II là vị giáo hoàng của lòng Chúa thương xót, vì nhờ ngài mà phong trào Lòng Chúa Thương Xót mới được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, và sứ điệp mà Chúa Giê-su trao cho thánh nữ Faustina mới được nhiều người biết đến. Điều quan trọng là khi cầu xin Chúa thương xót chúng ta, thì chúng ta cũng phải thực thi lòng thương xót với tha nhân đang sống chung quanh mình.
Hãy tín thác vào lòng thương xót của Chúa để giữa mọi thăng trầm, buồn vui của cuộc sống thường ngày, chúng ta có thể vượt thắng được mọi thử thách gian truân ...
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su là Cha giàu lòng thương xót, xin cho tất cả chúng con cũng luôn thể hiện lòng thương xót đối với tha nhân.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có thương xót và giúp đỡ những anh chị em đói rách, bần cùng không ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
Sai đi như Chúa Cha đã sai
(J. Potin, “Jésus, l’histoire vraie”).
Phòng đóng kín, Đức Giê-su đột ngột hiện ra giữa các môn đệ, ba lời vắn vỏi : bình an, Thánh Thần, tha tội.
Ở đây, các môn đệ sợ người Do-thái chứ không sợ ma. Trái lại, họ tràn đầy niềm vui. Sao họ có thể dè dặt về căn tính của Đấng hiện ra, vì Người đã cho họ xem tay và cạnh sườn Người ? Đức tin vào sự Phục Sinh phát sinh từ khám phá này, cũng với sự bình an và niềm vui được gặp lại Người, hai món quà của thời đại Mê-si-a mà Người đã hứa cho họ. Theo thánh Gio-an và thánh Lu-ca, sự hiện diện của Người không có mục đích đưa họ trở lại quá khứ nhung nhớ. Đức Giê-su “sai” họ như Cha Người đã sai Người. Họ trở nên “tông đồ” của Người. Để tấn phong, Người thổi hơi, nghĩa là ban Thánh Thần của Người cho họ theo hai nghĩa của từ ngữ bằng tiếng Do-thái và Hy-lạp. Theo thánh Gio-an, thổi hơi liên hệ đến việc ban phát hào phóng Thánh Thần mà thánh Lu-ca đặt vào thời điểm năm mươi ngày sau, trong lễ Hiện Xuống. Ân ban Thánh Thần cho phép họ tha thứ tội lỗi mà theo thánh Gio-an, chủ yếu là tội từ chối tin Đức Giê-su là Con Chúa Cha. Ai tuyên xưng Người sẽ được tha tội, vượt qua cái chết đến sự sống. Sứ mạng của các Tông Đồ là loan báo tha tội này nhân danh Đức Giê-su.
Chiêm ngắm Đức Giê-su trong “tấm gương” đức tin của những kẻ đã thấy Người
(Mgr. L. Daloz, “Nous avons vu sa gloire”).
Đức Giê-su tuyên bố từ nay sẽ là chế độ đức tin. Người đã tỏ mình ra trong vinh quang phục sinh cho các Tông Đồ và các môn đệ. Họ sẽ là những chứng nhân ưu tuyển đã thấy trước điều mai sau sẽ tỏ ra cho mọi người : khi chúng ta thấy Người diện đối diện, ta sẽ nhận ra Đấng đã cho ta xỏ ngón tay vào vết thương trên bàn tay và ở cạnh sườn Người. Trong khi chờ đợi ngày mặc khải chung cuộc, ta tìm thấy sự bảo đảm và niềm vui của đức tin trong chứng từ của các môn đệ đầu tiên. Phúc cho những ai không thấy mà tin. Ta tin khi chiêm ngắm Đức Giê-su trong tấm gương đức tin của những chứng nhân đã thấy Chúa, cho dù đối với ta sự Phục Sinh vẫn là một điều khó hiểu. Nếu ta tiếp nhận phép lạ phục sinh trong sự vững vàng tăm tối của đức tin, một ngày kia Đấng Phục Sinh sẽ tỏ mình cho ta, và ta sẽ phải kêu lên như ông Tô-ma : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !”
Suy niệm (Lm. Edmund Power)
Cao Trí (TGPSG) biên dịch từ Vatican News
Khi Giáo hội cử hành Chúa nhật II Phục Sinh, hay còn gọi là Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa, cha Edmund Power suy niệm về chủ đề: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”
Bài Tin Mừng hôm nay theo Tin mừng theo Thánh Gioan chương 20 mô tả các biến cố diễn ra vào hai buổi tối Chúa nhật liên tiếp: lần thứ nhất là ngày Phục Sinh và lần thứ hai là Chúa nhật kế tiếp, tức là hôm nay.
Như thường thấy nơi vị Thánh sử thứ tư, chúng ta cần đọc với sự nhạy bén đặc biệt đối với những ý nghĩa sâu xa hơn.
Trong hai lần ấy, các môn đệ đều ở trong một căn phòng; có một cảm giác ngột ngạt của sự khép kín trong một không gian hạn hẹp, như một thứ nhà tù được dựng nên bởi nỗi sợ và sự tự vệ.
Có thể hình dung đó như một ngôi mộ trong đá, bị niêm phong bằng một tảng đá lớn. Đức Giêsu đã sống lại, nhưng giờ đây Người bước vào “ngôi mộ” của nỗi sợ làm tê liệt các môn đệ.
Trong hai Chúa nhật ấy, với sự nhấn mạnh lặp lại rằng “cửa đều đóng kín”, bản văn gợi lên một điều gì đó không hoàn toàn theo nghĩa đen. Đức Giêsu đi vào để dẫn họ ra khỏi nỗi sợ hãi bước vào một đời sống mới.
Lời chào mở đầu của Người trong từng lần hiện ra ấy đều mang dáng dấp phụng vụ: “Bình an cho anh em”. Ngay sau đó là việc Người cho thấy các vết thương của mình.
Người không giả vờ rằng cuộc Thương Khó đã không thực sự xảy ra, hay cuộc Thương Khó của Người không phải là trung tâm của những gì đang diễn ra. Các tông đồ cũng như chúng ta, sẽ phải trải qua đau khổ.
Đức Giêsu đã nói với Phêrô trong Bữa Tiệc Ly: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được; nhưng sau này anh sẽ theo” (Ga 13,36). Phản ứng của các môn đệ trước sự xuất hiện của Người là niềm vui (“các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa”), rồi sau khi lặp lại lời chúc bình an, Người thổi hơi ban Thánh Thần cho họ: đây là một “khoảnh khắc Hiện Xuống” trong Tin Mừng thứ tư.
Thánh Phaolô cho chúng ta biết hoa trái của Thánh Thần là bác ái, hoan lạc và bình an (Gl 5,22). Trong bối cảnh Phục Sinh của Tin Mừng hôm nay, những hoa trái đầu tiên của Thánh Thần được trao ban và đón nhận.
Tình yêu không được nói rõ, nhưng liệu chúng ta có thể nghi ngờ sự hiện diện của nó, khi Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15,13).
Với sự xuất hiện của Tôma vào Chúa nhật thứ hai, chúng ta cũng bước vào vở kịch này. Có lẽ chúng ta chia sẻ sự hoài nghi của ông: liệu chúng ta có thể tin vào điều mình chưa từng thấy không? Có thể dựa vào lời người khác không? Có thể có bình an và niềm vui giữa những giới hạn của nỗi sợ và những khó khăn chúng ta đang đối diện hôm nay không?
Tôma đã thấy và đã tin, nhưng đức tin ông diễn tả qua lời tuyên xưng cao điểm của Tin Mừng, “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”, thực ra chưa phải là đỉnh cao tối hậu. Còn có một đức tin cao hơn: “Phúc thay những người không thấy mà tin.”
Giữa đám đông những người ấy, tất cả chúng ta đều hiện diện; đức tin của chúng ta vào Chúa được thúc đẩy bởi niềm hy vọng và tình yêu: tình yêu của Người dành cho chúng ta và sự đáp trả tín thác của chúng ta đối với tình yêu ấy.
Suy niệm (Lm. Roberto Pasolini, OFM Cap. )
Vatican News (11/4/2026) – Say đây là bài suy niệm Chúa nhật 2 Phục sinh năm A của Cha Roberto Pasolini, nhà giảng thuyết của Phủ Giáo hoàng.
“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín” (Ga 20,19), Thánh sử Gioan viết, vào buổi chiều ngày hôm ấy, ngày mà Đấng chịu đóng đinh đã được quyền năng Thiên Chúa làm cho sống lại. Khi nỗi sợ hãi và thất vọng lan tràn giữa các môn đệ, “Đức Giêsu đến”, không phá tung cánh cửa nào, nhưng chỉ phá vỡ nhà tù của nỗi buồn bằng một lời chào đầy hòa giải:
“Bình an cho anh em!” (Ga 20,19).
Không dễ để ngay lập tức hòa nhịp với những tình cảm mà người khác dành cho chúng ta, nhất là khi những tình cảm ấy đẹp đẽ và bất ngờ. Vì thế, Chúa quyết định thêm vào lời nói một cử chỉ có thể khơi dậy niềm hy vọng và sự an tâm nơi nhóm môn đệ. Người không mang chút tinh thần trả thù nào, nhưng cho họ thấy “tay và cạnh sườn” (Ga 20,20), dấu tích của sự dữ đã phải chịu, nhưng trên hết là dấu chỉ hùng hồn của ơn tha thứ được trao ban. Một niềm vui bất ngờ, có sức sưởi ấm và lay động, bừng lên trong lòng các bạn hữu của Người: “Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20,20).
Tuy nhiên, không phải ai cũng sẵn sàng bước vào bầu khí niềm vui ấy và hơi ấm của sự hiệp thông được tái lập với Chúa Phục Sinh: “Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến.” (Ga 20,24). Cuộc khủng hoảng của vị tông đồ này dường như ăn sâu trong con người ông, đến mức khiến ông không tin ngay cả trước sự hân hoan của các bạn đồng môn:
“Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” (Ga 20,25).
Thế nhưng, chính Tôma, tám ngày sau, lại là người tuyên xưng đức tin đẹp nhất, bỏ lại phía sau mọi dư âm của thất vọng và buồn sầu: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Là người cuối cùng gặp Đấng Phục Sinh, Tôma lại là môn đệ đầu tiên hiểu rằng “niềm hy vọng sống động” (1 Pr 1,3) của lễ Phục Sinh không thể gặp gỡ một cách tùy tiện, ở bất cứ nơi nào và theo bất cứ cách nào. Chúa Giêsu không chỉ muốn được coi là đáng tin, nhưng còn muốn trở nên đáng tín nhiệm trước mắt chúng ta, để chúng ta khám phá “sự sống” mà chúng ta có thể nhận được “nhờ danh Người” (Ga 20,31).
Vì thế, Người đã thiết lập những thời điểm và hoàn cảnh, trong đó kinh nghiệm gặp gỡ ân sủng của Người trở nên khả thi cho mọi người. Chính phụng vụ của Hội Thánh không ngừng giáo dục chúng ta về điều này, với sự đơn sơ đáng kinh ngạc và sự trung thành đúng lúc của mình.
“Tám ngày sau”, Đức Giêsu lại đến giữa các môn đệ đang quy tụ, để dạy họ rằng từ nay, ân sủng của Người là một hồng ân có thể được đón nhận và kín múc trong bất cứ cộng đoàn nào tụ họp nhân danh Người. Không phải ở bất cứ đâu, không phải lúc nào chúng ta cũng được gặp Đấng Phục Sinh. Quả thật, Người tìm kiếm chúng ta, chờ đợi chúng ta, vạch ra những con đường dẫn đến với Người; Người đuổi theo chúng ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, nhất là khi chúng ta lạc lối. Nhưng đồng thời, Người cũng chờ đợi chúng ta cùng với anh chị em chia sẻ ký ức và niềm khao khát về sự hiện diện của Người, trở nên Hội Thánh, học cách cử hành các nghi thức và phụng vụ như những cơ hội “duy nhất” để đón nhận Thần Khí của Người, chứ không phải như những sự lặp lại mệt mỏi của những cử chỉ và lời nói không còn sức sống nội tâm.
Thật vậy, mọi tương quan yêu thương đều được nuôi dưỡng như thế. Không chỉ bằng sự tự phát đầy hấp dẫn và mê hoặc, nhưng còn bằng một nhịp điệu có trật tự và trung thành, phát xuất từ một con tim hạnh phúc vì đã chọn người kia. Một con tim biết đập mà không bị chậm lại bởi nuối tiếc hay mặc cảm tội lỗi.
Lễ Phục Sinh của Chúa dạy chúng ta rằng tình yêu không phải là điều có thể ứng biến, nhưng được xây dựng cách từ từ, qua những cử chỉ và lời nói được lặp lại theo thời gian, nhờ đó con người học cách chết đi cho chính mình, để trở nên “kiên trì” (Cv 2,46) trong sự quan tâm đến người khác và trong sự trung tín với chính con tim mình.
Chúa đã làm như thế với chúng ta: Người không ứng biến trong việc tỏ lộ tình yêu tận hiến cho con người, nhưng đã kiên nhẫn xây dựng điều ấy, tận dụng những cơ hội mà thời gian và lịch sử mang lại.
Cho đến hôm nay, Người vẫn trung thành với sự lựa chọn hiến thân ấy, một sự lựa chọn dành cho tất cả và mãi mãi. Người chờ đợi gặp chúng ta vào “ngày thứ tám” của mỗi tuần, nghĩa là trong mọi thời. Và Người trao cho chúng ta tự do để cũng làm như thế, nhằm mở rộng biên cương của Hội Thánh và không gian của sự phục sinh, nơi nam nữ có thể nhận ra nhau là anh chị em:
“Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.” (Cv 2,47).
Nguồn: vaticannews.va/vi
Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)
BÀI 1: BÌNH AN CHO ANH EM
Suy Niệm
Giáo hội đặc biệt dành Chúa nhật thứ hai sau lễ Phục sinh
để kính Lòng Chúa Thương xót.
Khi đi rao giảng, Đức Giêsu hay chạnh lòng thương
trước những người bệnh tật, khổ đau, tội lỗi.
Khi Ngài bước vào cuộc Khổ nạn và đi đến cái chết,
chúng ta cũng thấy trái tim Ngài đầy tình xót thương.
Ngài thương các môn đệ khi mắt họ nặng trĩu ở Vườn Dầu,
Ngài để cho họ ngủ dù rất mong họ thức (Mt 26,43-44).
Ngài chấp nhận nụ hôn phản bội của Giuđa
và đứng ra bảo vệ để các môn đệ rút lui an toàn (Ga 18,8-9).
Ngài sờ vào tai của anh đầy tớ vị thượng tế để chữa lành,
sau khi tai anh bị chém đứt (Lc 22,51).
Lúc gà gáy, Ngài quay lại nhìn Phêrô sau khi ông chối Ngài.
Cái nhìn cảm thông, tha thứ, khiến ông bật khóc (Lc 23,62).
Trên đường lên Núi Sọ, khi các phụ nữ khóc thương Ngài,
Ngài lại tỏ lòng thương họ, vì tai họa họ sắp phải chịu (Lc 23,28).
Trên thập giá, Ngài xin Cha tha thứ cho những kẻ giết mình,
và ban ơn cứu độ cho người trộm biết thống hối (Lc 23,34.43).
Cử chỉ tình yêu cuối cùng của Ngài là gắn kết
Mẹ của mình với anh môn đệ mình thương:
“Đây là con của Bà… Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27).
Khi Đức Giêsu được Thiên Chúa Cha phục sinh từ cõi chết,
Ngài được đưa vào vinh quang đã có trước đây (Ga 17,24),
được Cha trao mọi quyền năng trên trời dưới đất (Mt 28,18).
Dù chiến thắng khải hoàn, Ngài vẫn là Chúa xót thương.
Đấng đầy quyền năng thần linh vẫn tôn trọng tự do con người.
Chúa phục sinh đã không đi gặp Philatô,
để trừng phạt ông này về tội hèn nhát, không dám tha.
Ngài không hiện ra để lên án sự vô trách nhiệm của ông.
Chúa phục sinh cũng không đi gặp các thượng tế
để vạch trần lòng dạ xấu xa của họ,
khi họ lên kịch bản công phu nhằm hãm hại Ngài.
Họ đã thách Ngài xuống khỏi thập giá để họ tin (Mt 27,42).
Bây giờ Ngài có thể bắt họ tin bằng việc hiện ra với họ.
Nhưng Ngài đã không làm.
Những người được Đấng phục sinh hiện ra,
đều là các môn đệ và tín hữu (1 Cr 15,3-8).
Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho ta thấy
lòng thương xót vô bờ của Đấng phục sinh đối với các môn đệ.
Ngài đi bước trước đến với họ,
để ủi an nâng đỡ họ sau biến cố thập giá kinh hoàng,
biến cố làm vỡ tan mọi hy vọng và sụp đổ mọi ước mơ.
Các môn đệ đã mang những mặc cảm do vấp ngã.
Thầy đến để an ủi chữa lành các thương tích
bằng việc cho họ thấy các vết thương trên thân thể mình.
Các dấu đinh ở tay chân, và dấu đâm ở cạnh sườn Thầy
đem lại niềm vui và niềm tin về vị Thầy đã chết
nhưng nay đang sống và đang đứng bên họ.
Đấng phục sinh tế nhị không nhắc lại chuyện đã qua.
Ngài đẩy họ về phía trước, và sai phái họ lên đường.
Rồi sẽ đến lúc họ phải mở toang mọi cánh cửa khép,
thắng mọi sợ hãi, và chấp nhận chung số phận với Thầy.
Đấng phục sinh là Đấng có trái tim thương xót.
Ngài không muốn mất Tôma, vì Ngài biết tính của anh ấy.
Ngài hiểu những đòi hỏi có vẻ quá đáng của anh,
và biết anh muốn tin một cách nghiêm túc.
Chính vì thế một tuần sau, Ngài đã trở lại để gặp anh,
và thỏa mãn mọi điều anh đòi hỏi (Ga 20,27).
Thầy Giêsu vui sướng khi thấy lòng tin của anh mềm lại.
Anh chịu thua khi thấy tình thương Thầy dành cho mình,
chỉ biết thốt lên lời tuyên xưng: Lạy Thiên Chúa của con!
Tình thương của Đấng phục sinh không chỉ dành cho Tôma,
mà còn trải rộng đến đoàn tín hữu tương lai.
Vẫn có những con chiên cần được đưa về ràn (Ga 10,16).
Vẫn có những người vì không thấy nên chưa tin (Ga 20,29).
Vẫn có những người đã tin nhưng nay đức tin bị mất.
Mùa Phục sinh là thời gian bắt chước Đấng phục sinh
đi thăm các Tôma ở quanh ta…
Cầu Nguyện
Lạy Cha là Chúa trời đất,
Cha là Cha toàn năng,
nhưng Cha lại không phải là nhà độc tài.
Cha không quyết định một cách vô lý và độc đoán.
Cha đã cho con người cùng được chia sẻ tự do của Cha,
và Cha luôn tôn trọng tự do ấy,
dù con người vẫn lạm dụng tự do để làm điều xấu.
Lạy Cha toàn năng,
Khi trao cho loài người chúng con tự do,
Cha đã muốn tự giới hạn phần nào sự toàn năng của Cha.
Bởi đó sự dữ có sức tung hoành trong thế gian này.
Khi lòng độc ác của một số người đã treo Con Cha lên,
chúng con hiểu Cha có đủ quyền năng để đưa Ngài xuống.
Nhưng Cha đã muốn Con Cha chia sẻ cái chết bất công
của bao người thấp cổ bé miệng trên thế giới.
Cha muốn cái chết ô nhục trên thập giá của Con Cha
trở nên dấu chỉ cao nhất của tình yêu Cha
đem lại ơn cứu độ cho nhân loại.
Lạy Cha toàn năng và khiêm hạ,
chúng con tin Cha vẫn đang làm việc để phục vụ chúng con.
Cha vẫn trao ban bánh và cá cho nhu cầu hàng ngày.
Cha vẫn mở cửa khi nghe tiếng gõ rụt rè của chúng con.
Chúng con tin vào tình yêu Cha
dành cho từng người ngay giữa sóng gió.
Và chúng con biết mình không bao giờ phải thất vọng.
BÀI 2: VUI MỪNG VÌ THẤY CHÚA
Suy Niệm
"Chúng tôi đã được thấy Chúa"
Ðó là tiếng reo vui ngây ngất của các môn đệ.
Thầy Giêsu, người đã bị đóng đinh, chết và chôn táng,
nay bất ngờ hiện đến, đứng giữa họ thật gần gũi.
Ðộng từ "thấy" được nhắc đến 6 lần trong bài Tin Mừng này.
Thấy Thầy vẫn như xưa, với những dấu đinh và vết đâm.
Nhưng Thầy cũng khác xưa, nên không dễ nhận ra ngay.
Maria Mácđala cứ tưởng Thầy là người làm vườn !
Ðể thấy được Chúa phục sinh, cần có đức tin.
Ai tin mới thấy, và thấy để rồi tin hơn.
"Phúc cho ai không thấy mà tin"
Chúng ta vẫn tin bao điều mình không thấy.
Các bạn trẻ vẫn tin vào tình yêu, tình bạn.
Các đôi vợ chồng vẫn tin vào sự chung thủy của nhau,
dù chẳng ai thấy rõ hết lòng dạ con người.
Tin không phải là một hành vi mù quáng hay phi lý.
Tin chẳng hề làm hạ giá con người.
Trái lại, chỉ con người mới biết tin và dám tin.
Nhờ tin, tôi không còn bị giam trong thế giới chật hẹp
của cân đo đong đếm, của vật chất khả giác,
nhưng được đưa vào một thế giới phong phú hơn nhiều:
thế giới của những ngôi vị tự do, của chính Thiên Chúa.
Tin là chấp nhận bấp bênh, là có thể bị lừa.
Nhưng nếu không tin thì không thể sống được.
Vấn đề là phải biết tôi đã tin vào ai.
Khủng hoảng lớn nhất là khủng hoảng niềm tin:
niềm tin vào Thiên Chúa và niềm tin vào con người.
Cả hai niềm tin nâng đỡ nhau và cho tôi hạnh phúc.
Ông Tôma không tin vào lời chứng của các bạn,
nên ông chậm tin vào việc Chúa phục sinh.
Khi Chúa giúp ông lấy lại niềm tin vào Chúa,
ông sẽ gắn bó hơn nhiều với cả nhóm môn đệ.
Chúng ta là những kẻ không thấy mà tin.
Không thấy bằng mắt thường,
nhưng vẫn thấy bằng con mắt đức tin.
Tin là một cách thấy nghiêm túc.
Người tin là người thấy bằng trái tim.
Họ thấy được Ðấng Vô Hình rõ hơn cả cái hữu hình.
Kitô hữu là người tin Chúa, nên cũng là người thấy Chúa.
Thấy Thiên Chúa hiện diện như người Cha nhân từ.
Thấy Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người trên trái đất,
Đấng sống và chết vì say mê Cha và say mê con người,
Đấng đã sống lại để cuộc đời mang một ý nghĩa mới,
cho mọi người là con cái Cha và là anh em của nhau.
Dù những điều chúng ta tin thật là mầu nhiệm,
nhưng đó không phải là chuyện mơ hồ, viển vông.
Thế giới hôm nay chỉ tin vào những người đã thấy.
Ước gì chúng ta dám mạnh dạn tin Chúa hơn,
để có thể thấy Chúa tỏ tường hơn
và giúp người khác thấy điều mình đã thấy.
Gợi ý chia sẻ
1. Nhiều khi chúng ta không thấy Chúa chỉ vì chúng ta không dám liều lĩnh tin vào Ngài. Có khi nào bạn gặp được Chúa, vì đã dám quên mình để sống cho tha nhân không?
2. Có khi nào bạn gặp khủng hoảng đức tin chưa (mất lòng tin vào Thiên Chúa và vào con người)? Ðâu là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng? Ðâu là cách bạn giải quyết?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt,
xin hãy gọi tên chúng con
như Chúa đã gọi tên
chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.
Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc,
xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài
như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.
Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi,
xin hãy đến và đứng giữa chúng con
như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.
Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em,
xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con
như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.
Lúc chúng con vất vả suốt đêm
mà không được gì,
xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn,
như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
xin tỏ mình ra
cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày,
để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến,
và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.
BÀI 3: NHỜ TIN MÀ CÓ SỰ SỐNG
Suy Niệm
Sau khi bà Maria Mácđala đi kể lại cho các môn đệ
chuyện bà đã thấy Chúa phục sinh hiện ra với mình thế nào,
các môn đệ không có vẻ gì thay đổi.
Họ vẫn ở với nhau, cửa đóng chặt vì sợ những kẻ đã giết Thầy.
Đức Giêsu thấy các môn đệ cần có một kinh nghiệm như Maria,
nên vào buổi chiều ngày gặp bà, Ngài đã đến gặp các môn đệ.
Đức Giêsu bây giờ vừa là vị Thầy đã chết cách đây mấy ngày,
với tay chân bị đóng đinh và cạnh sườn bị đâm thủng,
vừa là Đấng đã được phục sinh, với thân xác được biến đổi.
Đấng ấy đang vào một thế giới mới, trong một tình trạng mới,
có thể vào nhà dễ dàng, dù cửa đang đóng kín.
Đức Giêsu đem đến cho các môn đệ những món quà.
Món quà đầu tiên là sự hiện diện như một người đang sống.
Thân xác được phục sinh của Ngài vẫn mang dấu tích
trên tay chân và cạnh sườn của mình.
Đức Giêsu hiện ra cho các môn đệ với sự dịu dàng thân ái.
Cử chỉ và lời nói của Ngài cho họ thấy họ đã được thứ tha.
Thầy chẳng còn nhớ gì đến vấp ngã của họ trong quá khứ.
Rồi Ngài ban cho họ những món quà đã hứa trước đây.
Quà bình an: Thầy để lại bình an cho anh em,
Thầy cho anh em bình an của Thầy (Ga 14,27),
Quà Thánh Thần là Đấng mà Chúa Cha sẽ phái đến (Ga 14,26),
Đấng mà Thầy sẽ ban khi Thầy được tôn vinh (Ga 7,38-39).
Thánh Thần sẽ giúp anh em làm chứng về Thầy (Ga 15,26-27).
Quà sứ vụ: Như Cha đã sai Con đến trong thế gian,
Con cũng sai họ đến trong thế gian (Ga 17,18).
Cuối cùng, các môn đệ có kinh nghiệm quý báu của Maria:
“Chúng tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,25).
Sự bao dung tuyệt vời của Đức Giêsu còn được bày tỏ
khi Ngài hiện ra như chỉ để gặp riêng ông Tôma.
Ngài chiều ông vì Ngài quý ông và không muốn mất ông.
Thật ra đòi hỏi của ông không có gì quá đáng.
Ông chỉ đòi những điều các môn đệ khác đã được hưởng.
Đó là thấy các dấu đinh trên tay chân và dấu đâm ở cạnh sườn.
Nhưng hơn nữa, ông đòi được chạm vào các vết thương.
Đòi được thấy và chạm, không phải là một tội,
nhưng tội là không tin vào kinh nghiệm của anh em.
Đấng phục sinh đã thỏa mãn mọi điều ông yêu cầu.
Ngài mời ông làm những gì ông mong ước (Ga 20,27).
Tôma có dám làm không?
Tôma tin hẳn không phải vì ông đã xỏ ngón tay hay đặt bàn tay,
nhưng vì ông thấy Thầy Giêsu quá bao dung và tế nhị.
Thầy đến chỉ vì ông, để làm cho ông điều ông muốn.
Tôma đã ra khỏi sự cứng lòng của mình, để tin.
Ông tuyên xưng: Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!
Người ta tin những điều mình không thấy (Hr 11,1).
Nhưng Đức Giêsu nói: “Vì anh đã thấy Thầy, nên anh tin.”
Tôma chỉ thấy các vết thương trên thân xác sống lại của Thầy,
nhưng ông đã tin và tuyên xưng Thầy là Chúa và là Thiên Chúa.
Điều ông tin vượt quá điều ông thấy.
Chúng ta được hưởng mối phúc “không thấy mà tin”,
vì tuy không có kinh nghiệm như Maria, hay các môn đệ,
chúng ta đã tin vào lời chứng của những người đã thấy,
và đã dám chết vì lời chứng của mình.
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
Xin ban cho con sự sống của Chúa,
Sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin ban cho con bình an của Chúa,
Bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin ban cho con niềm vui của Chúa,
Niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
Xin ban cho con hy vọng của Chúa,
Hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa,
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.
BÀI 4: CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY CHÚA
Suy Niệm
Sau khi được phục sinh, Ðức Giêsu được tôn vinh lên làm Chúa,
nhưng Ngài vẫn dễ thương như xưa.
Nỗi bận tâm lớn nhất của Ngài là các môn đệ.
Việc làm quan trọng nhất của Ngài là đi thăm các ông.
Ngài đưa các ông ra khỏi nỗi sợ hãi co quắp,
khỏi căn nhà đóng kín cửa âm u.
Ngài chúc cho họ bình an ba lần (c.19.21.26),
thứ bình an ngay giữa những bất an, dao động.
Ðức Giêsu phục sinh cho họ xem các vết thương.
Thân xác chiến thắng của Ngài
sẽ mãi mãi mang dấu tích của cuộc khổ nạn.
Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa,
vì được Ngài cho tham dự vào cùng một sứ mạng:
“Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”
Chỉ có một người không vui, đó là ông Tôma.
Ông này vốn có óc thực tiễn (Ga 11,16; 14,5).
Chẳng rõ vì sao ông hụt gặp Ðức Giêsu phục sinh.
Chỉ biết ông đã “không ở với” các môn đệ, lúc Ngài đến.
Có vẻ giữa ông và cả nhóm có cái gì xa cách.
Sự xa cách này trở nên rõ rệt hơn,
khi ông thẳng thắn từ chối tin vào lời chứng của các bạn:
“Chúng tôi đã thấy Chúa.”
Nhưng ông lại rất tin vào chính mình, vào giác quan.
“Nếu tôi không thấy... nếu tôi không xỏ ngón tay...
nếu tôi không thọc bàn tay... tôi sẽ chẳng tin đâu.”
Ông có thái độ như một nhà khoa học thực nghiệm.
Ðức Giêsu phục sinh đến với nhóm, nhưng không quên Tôma.
Ngài muốn cho ông được toại nguyện.
Tuần sau, khi Tôma ở với nhóm, thì Ngài hiện đến.
Ngài chê ông cứng lòng trước những lời chứng của anh em,
nhưng Ngài vẫn thoả mãn từng điều ông đòi hỏi.
Rốt cuộc Tôma cũng được thấy và tin như anh em.
Cả nhóm Mười Một trở thành Nhóm chứng nhân.
Ðức tin của chúng ta hôm nay
dựa trên đức tin của những người đã thấy và đã tin,
đã dám hy sinh mạng sống để tuyên xưng Ngài sống lại.
Quanh chúng ta vẫn có nhiều người giống Tôma.
Họ đòi “thấy và chạm đến” những thực tại vô hình,
như Thiên Chúa, linh hồn, đời sau…
Nếu “thấy và chạm” có nghĩa là “có cảm nghiệm”,
thì đòi hỏi trên thật là chính đáng.
Ðức Giêsu đã cho Tôma được thấy và chạm đến Ngài.
Chúng ta cũng phải có khả năng giúp người khác
thấy và chạm đến những điều vô hình nhưng có thật.
Chúng ta cần sống như người đang thấy Thiên Chúa,
cần thanh thoát như người đã đụng đến trời cao,
cần bay lên khỏi cái nặng nề của thân xác
như người đã cảm được cái nhẹ bổng của linh hồn.
Truyền giáo là làm cho người ta tin,
làm cho người ta thấy và chạm đến Thiên Chúa.
Nhưng trước hết, mỗi người chúng ta phải nói được rằng:
“Tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,18).
Và tất cả cộng đoàn chúng ta phải nói được rằng:
“Chúng tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,25).
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu phục sinh
Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa,
xin cho con biết sống
cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,
Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.
Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.
Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.
Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.
Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.
Vượt qua những thành kiến con có về người khác...
Chính vì Chúa đã phục sinh
nên con vui sướng và can đảm vượt qua,
dù phải chịu mất mát và; thua thiệt.
Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh
gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng,
tin tưởng và niềm vui.
Ước gì ai gặp con
cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa. Amen.
